Trong ít ngày qua em đã nhận được khá nhiều lời hỏi muốn mua đất nền khu tái định cư Lộc An – Bình Sơn (khu dân cư tái định cư Sân Bay long Thành). Hiện nay thì chưa có thông tin nào chính thức nào hết. Vì thế anh chị nào có nhu cầu mua hay bán đất khu tái định cư Lộc An Bình Sơn. Vui lòng điền thông tin phía dưới bài viết. Quý anh chị vui lòng tham khảo vấn đề luật pháp khi mua suất tái định cư ở cuối bài viết.

Vị trí của khu tái định cư Lộc An – Bình Sơn: Nằm tại mặt tiền đường DT769 giáp ranh giữa xã Lộc An và xã Bình Sơn, đối diện cổng khu công nghiệp Lộc An – Bình Sơn

– Mua + tên + sđt
– Bán + tên + sđt

Thông tin sđt của anh chị sẽ không được công khai.

Sau khi có thông tin chính thức, chúng tôi sẽ giúp mọi người kết nối với nhau. Xin cảm ơn.

Sau khi sân bay Long Thành được thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát lệnh khởi công ngày 5/1/2021, thì giá bất động sản quanh khu vực sân bay Long Thành tăng cao không ngừng. Mức giá tham khảo khi mua suất (phiếu tái định cư) sân bay Long Thành: Có mức giá khoảng 1 tỷ 8 – 3 tỷ 5 (chưa bao gồm thuế)
– Đóng thuế, cở sở hạ tầng,… có mức giá giao động từ 2 tỷ 3 – 4 tỷ. Đây là thông tin tham khảo, vui lòng không lấy căn cứ để mua hay bán.




Phó chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai Nguyễn Quốc Hùng vừa ký Quyết định số 3347/QĐ-UBND Phê duyệt giá đất khu tái định cư Lộc An – Bình Sơn phục vụ sân bay Long Thành

Cụ thể, giá đất khu tái định cư Lộc An – Bình Sơn được định theo các tuyến đường, đối với loại:
– Đường rộng 45m, 48m giá đất là 6 triệu đồng/m2.
– Đường 32m, 33m giá đất hơn 4.875.000 đồng/m2.
– Đường rộng 24m, 25m, 26m có giá 3.750.000 đồng/m2.
– Đường 11,5m, 15m, 16m, 17m giá đất là 3 triệu đồng/m2.
Theo quyết định, đơn giá trên định giá dựa theo quy hoạch xây dựng chi tiết của dự án Khu dân cư, tái định cư Lộc An – Bình Sơn và chưa bao gồm tiền phí sử dụng hạ tầng.
Xem chi tiết Nghị định 47/2014/NĐ-CP: Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Bản đồ phân lô khu tái định cư Lộc An – Bình Sơn

Quý anh chị xem thông tin liên quan về sân bay Long Thành cũng như khu tái định cư tại đây Sân bay Long Thành

Thủ tục mua đất tái định cư

1. Thửa đất chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do vậy, chỉ có thể làm thủ tục “đặt chỗ”, đặt cọc… chứ chưa thể thực hiện thủ tục chuyển nhượng theo quy định pháp luật… Hai bên giao tiền (đặt cọc = tiền chuyển nhượng) bàn giao đất và làm thủ tục ủy quyền để làm GCN QSD đất và sang tên.

2. Hiện nay, giấy tờ pháp lý cao nhất của thửa đất đó là Quyết định giao đất tái định cư. Bạn phải làm thủ tục xin cấp GCN QSD đất cho người có tên trong Quyết định giao đất tái định cư đó sau đó mới sang tên cho bạn được.

Những rủi ro khi mua bán chuyển nhượng suất tái định cư chưa có Giấy chứng nhận

Dù rằng việc giao dịch đã hoàn tất, bên nhận chuyển nhượng đã thanh toán tiền theo thỏa thuận, nhận suất TĐC và toàn bộ các giấy tờ bản chính có liên quan đến suất TĐC kèm hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ (Quyền sử dụng đất) và HĐUQ (Hợp đồng ủy quyền), còn bên chuyển nhượng đã nhận đủ tiền theo thỏa thuận. Tuy nhiên, đối chiếu với các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn thì hình thức giao dịch này vẫn tồn tại rất nhiều rủi ro khó lường cho bên nhận chuyển nhượng STĐC (Suất tái định cư), bởi những lý do sau:

Thứ nhất, HĐUQ vô hiệu. Nếu vì bất kỳ lý do nào đó, ví dụ: bên chuyển nhượng đổi ý không chuyển nhượng, giá bất động sản tăng… thì bất kể thời gian nào kể từ ngày giao dịch được xác lập, bên chuyển nhượng có thể yêu cầu Tòa án tuyên HĐUQ là vô hiệu7 do hợp đồng này được xác lập trên cơ sở nhằm che giấu giao dịch khác đó là chuyển nhượng STĐC là đất ở – đây mới là giao dịch thuộc ý chí đích thực của các bên. Khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 quy định giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo như sau: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan”.

Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu là các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu trước khi giao kết hợp đồng, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, sau đó mới xét đến yếu tố lỗi để bồi thường. Tuy nhiên, do các bên đều có lỗi nên sẽ không xét bồi thường thiệt hại trong trường hợp này. Khoản 1, 2 và 4 Điều 131 BLDS năm 2015 quy định: “1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. 2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả… 4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường”.

Như vậy, trong trường hợp này bên nhận chuyển nhượng QSDĐ sẽ chỉ được nhận lại số tiền đã đưa cho bên chuyển nhượng, không được tính lãi suất. Trường hợp, bên chuyển nhượng không có thiện chí trả lại hoặc đã chi xài hết tiền mà không còn tài sản để thi hành bản án/quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án có thẩm quyền thì việc nhận lại số tiền đã đưa là vô cùng khó khăn.
Thứ hai, HĐUQ có thể bị chấm dứt do bên ủy quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật.

HĐUQ có thể bị chấm dứt do bên ủy quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Bên nhận chuyển nhượng luôn an tâm vì cho rằng bên chuyển nhượng không thể đơn phương chấm dứt HĐUQ được, muốn chấm dứt hợp đồng phải có sự đồng ý của bên được ủy quyền (bên nhận chuyển nhượng). Tuy nhiên, trong trường hợp này, do các HĐUQ sẽ là hợp đồng không có thù lao. Vì vậy, bên ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt HĐUQ bất kỳ lúc nào miễn là báo trước cho bên được ủy quyền một thời hạn hợp lý. Khoản 2 Điều 569 BLDS năm 2015 quy định: “Trường hợp ủy quyền không có thù lao, bên được ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên ủy quyền biết một thời gian hợp lý; nếu ủy quyền có thù lao thì bên được ủy quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào và phải bồi thường thiệt hại cho bên ủy quyền, nếu có”. Pháp luật hiện hành chưa có hướng dẫn cụ thể “một thời gian hợp lý” là bao lâu. Tuy nhiên, khi bên ủy quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thì các bên sẽ xảy ra tranh chấp. Các bên lại phải khởi kiện ra tòa án để yêu cầu phân xử và kết cục là tòa án lại tuyên HĐUQ vô hiệu do giả tạo như đã nêu.

Khoản 2 Điều 422 BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng chấm dứt trong trường hợp sau đây: 1. Hợp đồng đã được hoàn thành. 2. Theo thỏa thuận của các bên. 3. Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân giao kết hợp đồng chấm dứt tồn tại mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện. 4. Hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện. 5. Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn. 6. Hợp đồng chấm dứt theo quy định tại Điều 420 của BLDS năm 2015. 7. Trường hợp khác do luật quy định”. Hậu quả pháp lý trong trường hợp này sẽ là:
(i) nếu HĐUQ chấm dứt do hết hạn hoặc do bên nhận ủy quyền chết hoặc bị toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết thì quyền định đoạt suất TĐC sẽ thuộc về người ủy quyền; (ii) còn trường hợp chấm dứt do người ủy quyền chết, bị toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết thì quyền định đoạt suất TĐC sẽ thuộc về người được thừa kế của người ủy quyền, người đại diện theo pháp luật của bên ủy quyền.

Thứ ba, bên nhận chuyển nhượng sẽ gặp khó khăn trong việc làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận QSDĐ. Do pháp luật không thừa nhận việc chuyển nhượng QSDĐ khi chưa có giấy chứng nhận, nên khi cấp Giấy chứng nhận QSDĐ của suất TĐC là đất ở thì cơ quan có thẩm quyền chỉ cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho người được bố trí TĐC (chủ gốc). Trong khi đó, suất TĐC thường không phải chỉ chuyển nhượng cho một người mà là đã chuyển nhượng qua rất nhiều người trung gian, mà những người này có thể lại không quen biết nhau. Do đó, rủi ro rất lớn cho người nhận chuyển nhượng cuối cùng là khi có Giấy chứng nhận QSDĐ thì không thể tìm ra được người chủ gốc để làm thủ tục chuyển nhượng sang tên theo quy định pháp luật. Còn trường hợp nếu có tìm được người chủ gốc thì thông thường sẽ bị người chủ gốc gây khó khăn nhằm “đề nghị” thêm chi phí mới chịu ký hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật.

Thứ tư, khó chuyển nhượng lại cho người khác. Khi nhận chuyển nhượng STĐC là đất ở, nếu không còn nhu cầu sử dụng hoặc bị kẹt tiền… muốn chuyển nhượng lại suất TĐC này, thì sẽ rất khó để chuyển nhượng lại cho người khác do về mặt pháp lý không rõ ràng, người nhận chuyển nhượng sau có thể hiểu rõ bản chất và ngại nhiều hệ lụy của việc giao dịch chuyển nhượng thông qua HĐUQ.
Thứ năm, ngoài những rủi ro như phân tích trên, người nhận chuyển nhượng suất TĐC là đất ở còn gặp phải những rủi ro khác như: bên chuyển nhượng cố tình lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản, cùng một lúc ủy quyền cho nhiều người…

Tóm lại, khi tham gia giao dịch chuyển nhượng STĐC bằng các hình thức nêu trên, bên nhận chuyển nhượng sẽ đối mặt với rất nhiều rủi ro. Hình thức giao dịch này không thể thay thế được việc thực hiện giao dịch hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ theo quy định của pháp luật được.

Đánh giá: Mua bán suất tái định cư Lộc An – Bình Sơn

  1. Thùy
    ★★★★☆

    đường 26m

  2. Tường Minh
    ★★★★☆

    Tôi muốn mua, đầu tư 5 lô trong khu tái định cư Lộc An- Bình Sơn (Sân Bay Long Thành)
    Bạn có thể cho mình gặp chủ đất hoặc thông qua ai được?
    bạn có thể thông tin thêm về thông tin đất, diện tích, giá, bao giờ sang tên được?
    Và nếu mua vậy có an toàn không ạ?
    Mong thông tin sớm từ bạn.

  3. Thạch
    ★★★★☆

    Mình muốn mua đất century kim Oanh Long thành

  4. A Thái
    ★★★★☆

    Muốn mua 1 suất T Đ C lộc An Bình Sơn Đồng nai hướng Đông đường 32 m và 1 suất TĐC diện tích bao nhiêu m2 ?